BẢN ĐỒ NINH BÌNH
Bản đồ kinh tế Ninh Bình
VIDEO

Công nghiệp Ninh Bình

Công nghiệp Ninh Bình vươn tới những tầm cao

(ĐCSVN 24/02/2008)- Kể từ khi tái lập tỉnh đến nay, chưa năm nào công nghiệp, TTCN tỉnh Ninh Bình lại khởi sắc và phát triển mạnh như năm 2007 với giá trị sản xuất CN-TTCN toàn tỉnh (giá cố định 1994) ước đạt 4.072 tỷ đồng, bằng 90,16% so với kế hoạch năm, tăng 15,8% so với năm 2006 và cũng là năm đạt cao nhất từ trước đến nay.

 

 

Với mục tiêu phấn đấu nhanh chóng đưa Ninh Bình trở thành một tỉnh công nghiệp, những năm qua, đặc biệt là trong 2 năm 2006, 2007 Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta đã không ngừng phát huy nội lực, tập trung đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; đồng thời có những chính sách ưu đãi, khuyến khích hợp lý nên đã thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư vào Ninh Bình, góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn. Từ đây, vóc dáng của một tỉnh công nghiệp đã được hình thành và đang ngày càng rõ nét. 
Kể từ khi tái lập tỉnh đến nay, chưa năm nào công nghiệp, TTCN tỉnh ta lại khởi sắc và phát triển mạnh như năm 2007 với giá trị sản xuất CN-TTCN toàn tỉnh (giá cố định 1994) ước đạt 4.072 tỷ đồng, bằng 90,16% so với kế hoạch năm, tăng 15,8% so với năm 2006 và cũng là năm đạt cao nhất từ trước đến nay. Những sản phẩm công nghiệp thế mạnh của tỉnh có mức tăng trưởng khá so với năm 2006 là: xi măng + clanhke đạt 2,02 triệu tấn, tăng 46,9%; đá khai thác 3,5 triệu m3, tăng gần 66%; gạch đất nung 558 triệu viên, tăng 70%; phân lân 255 nghìn tấn, tăng gần 27%; mì cuộn 11,1 nghìn tấn, tăng hơn 2 lần; thép kết cấu phi tiêu chuẩn đạt 26 nghìn tấn, tăng 18,8%; may mặc đạt 6,6 triệu tấn sản phẩm, gấp 2,3 lần năm 2006… Tuy nhiên, 2 sản phẩm chủ yếu là xi măng + clanhke và thép cán không đạt kế hoạch sản xuất. Các nhà máy xi măng Duyên Hà, Hướng Dương và Vinakansai tiến độ đi vào sản xuất chậm, giá phôi thép biến động mạnh, giá thép nhập khẩu thấp hơn so với giá thép trong nước đã gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Nét nổi bật nhất của CN-TTCN năm 2007 là tỉnh ta đã có một số dự án đầu tư lớn hoàn thành và đi vào sản xuất, một số dự án chuẩn bị đi vào hoạt động từ đầu năm 2008 cùng với nhiều dự án đầu tư mới đang được triển khai xây dựng. Năm 2007 tỉnh ta đã chấp thuận, cấp phép cho 44 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 13.486 tỷ đồng. Đặc biệt, tại Cụm công nghiệp Gián Khẩu, dự án lắp ráp ô tô của Công ty cổ phần ô tô Thành Công được đẩy nhanh tiến độ và kho ngoại quan được phép đi vào hoạt động từ tháng 9/2007. Dây chuyền 1 Nhà máy xi măng Vinakansai đi vào hoạt động từ tháng 5/2007, đến hết tháng 11 đạt tổng giá trị sản xuất 280 tỷ đồng, bằng 60% giá trị sản xuất toàn Cụm công nghiệp. Nhà máy đang bắt tay vào xây dựng dây chuyền 2 để đến quý I/2009 đi vào hoạt động, nâng tổng công suất nhà máy lên 2,7 triệu tấn/năm. Đến nay đã có 1.300 lao động địa phương vào làm việc tại Cụm công nghiệp Gián Khẩu với mức thu nhập 1 triệu đồng/người/tháng. Ngoài 7 doanh nghiệp, nhà máy đã có sản phẩm, Cụm công nghiệp Gián Khẩu còn có thêm 5 dự án lớn đang triển khai xây dựng trên các lĩnh vực: cơ khí, lắp ráp ô tô, điện năng, dịch vụ ăn uống. Đây là Cụm công nghiệp lớn nhất tỉnh thu hút nhiều dự án đầu tư, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Gia Viễn nói riêng và của tỉnh nói chung. Tại xã Ninh Vân (huyện Hoa Lư), Nhà máy xi măng Duyên Hà đã cơ bản hoàn thành giai đoạn xây dựng, chuẩn bị đi vào sản xuất từ năm 2008 với công suất dây chuyền 1 là 56 vạn tấn/năm, đang tích cực triển khai xây dựng dây chuyền 2 để có công suất 1,8 triệu tấn/năm. Nhà máy được xây dựng bằng những thiết bị hiện đại của CHLB Đức, Hà Lan. 40% cán bộ, công nhân viên của nhà máy có trình độ đại học. Hiện, Nhà máy đã hình thành 17 đại lý nằm ở các tỉnh, thành trong nước và ký hợp đồng với một số trạm trộn bê tông để tiêu thụ sản phẩm. 

 

 

Tại Tam Điệp, đến cuối năm 2007 đã có 10 doanh nghiệp lớn đi vào hoạt động có hiệu quả như: Nhà máy xi măng Tam Điệp công suất 1,4 triệu tấn/năm; Nhà máy cán thép Tam Điệp của Công ty TNHH Pômihoa công suất 36 vạn tấn thép/năm; Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao với các dây chuyền chế biến rau quả xuất khẩu công suất gần 20.000 tấn sản phẩm/năm. Nhà máy xi măng Hướng Dương công suất 1,8 triệu tấn/năm, đã hoàn thành dây chuyền 1 công suất 900 nghìn tấn/năm chuẩn bị đi vào sản xuất từ đầu năm 2008. Dự án chế biến phân vi sinh từ rác thải sinh hoạt đang hoàn tất các thủ tục để khởi công xây dựng với số vốn gần 30 triệu USD. Ngoài ra, thị xã Tam Điệp đang lập hồ sơ để trình tỉnh và Chính phủ xây dựng khu công nghiệp tập trung số 2 trên diện tích 324 ha. 

 

 

Khu công nghiệp Ninh Phúc với quy mô 334 ha, hiện đã có 5 dự án đầu tư với tổng số vốn gần 8.000 tỷ đồng gồm: Nhà máy phân đạm của Tổng công ty hoá chất Việt Nam; Nhà máy sản xuất, chế biến sàng tuyển than và cảng bốc xếp của Công ty TNHH Tiến Hưng; Nhà máy kính nổi Tràng An của Công ty TNHH Dương Giang; Nhà máy cơ khí đóng tàu và chế tạo các thiết bị nâng hạ của Công ty TNHH xây dựng thương mại Xuân Thái; dự án nghề của UBND xã Khánh Phú; Nhà máy sản xuất phân đạm đã khởi công xây dựng... 

Bên cạnh các dự án lớn đã và đang chuẩn bị đầu tư tại các khu, cụm công nghiệp do tỉnh quản lý, còn có một số cụm công nghiệp nhỏ do huyện quản lý, có cụm đã có dự án vào đầu tư, có cụm đã quy hoạch, đang xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngoài các thế mạnh về công nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng là thế mạnh, nội lực phát triển của tỉnh, đang được tỉnh quan tâm đầu tư. Sau gần 2 năm thực hiện Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về đẩy mạnh trồng, chế biến cói, thêu ren và chế tác đá mỹ nghệ đến năm 2010, toàn tỉnh đã có hàng trăm tổ hợp sản xuất, doanh nghiệp làm các nghề này đã được thành lập, thu hút hàng nghìn lao động nông nhàn. Chính sách hỗ trợ của tỉnh đối với các ngành nghề đã tạo cho người dân yên tâm, phấn khởi phát triển nghề, tâm huyết với nghề. Vì vậy, số làng nghề được tỉnh công nhận tăng nhanh: năm 2006 toàn tỉnh chỉ có 3 làng nghề được công nhận thì đến năm 2007 đã có 12 làng nghề được UBND tỉnh ra quyết định công nhận. Đồng chí Phạm Gia Quang, Giám đốc Sở Công nghiệp cho biết: Sở đã tiến hành xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006 - 2015 có tầm nhìn đến 2020, dự thảo đã cơ bản hoàn thành, phấn đấu hoàn thiện trình UBND tỉnh phê duyệt trong tháng 1/2008. Tích cực tham gia công tác bảo vệ môi trường, quản lý chất lượng sản phẩm, sở hữu trí tuệ trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của WTO. Tham mưu xây dựng Kế hoạch số 18/KH-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thực hiện chương trình phát triển CN-TTCN giai đoạn 2006 - 2010. Bám sát theo dõi cơ sở, kịp thời cập nhật báo cáo UBND tỉnh kết quả thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh uỷ về đẩy mạnh trồng, chế biến cói, thêu ren, chế tác đá mỹ nghệ đến 2010. Công tác khuyến công được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, thu hút thêm nhiều lao động. 

 

 

Phát huy tiềm năng thế mạnh, năm 2008, ngành CN-TTCN của tỉnh hướng đến mục tiêu: giá trị sản xuất CN-TTCN đạt 5.050 tỷ đồng, các sản phẩm chủ yếu là xi măng, clanhke đạt 3 triệu tấn, thép xây dựng 180 nghìn tấn, gạch đất nung 600 triệu viên, phân hoá học 250 nghìn tấn, 780 triệu KWh điện… Một trong những giải pháp cụ thể, thiết thực để đạt mục tiêu đó là tỉnh đã và đang tạo mọi điều kiện, môi trường đầu tư thông thoáng để các doanh nghiệp đã hoàn thành xây dựng cơ bản sớm đi vào sản xuất, thu hút thêm nhiều dự án vào các khu, cụm công nghiệp của tỉnh… 

 

 

Đ.T (dangcongsan.vn)